Bệnh tay chân miệng (hand foot mouth disease: HFMD) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, đau miệng, loét miệng với vết loét đỏ hay phỏng nước ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi; phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.

Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp và dẫn tới tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời. Bệnh đã phổ biến ở một số nước trong khu vực và đang trở thành vấn đề y tế cộng đồng quan trọng tại Việt Nam.

chantaymieng1.jpg

Bệnh tay chân miệng được phát hiện lần đầu tiên tại Toronto - Canada vào năm 1957 và được đặt tên là bệnh tay chân miệng  năm 1959 tại vụ dịch ở Birmingham - Anh. Cũng tại vụ dịch này các tác giả đó xác định Coxsackievirus A16 là tác nhân gây bệnh (4,5). Năm 1970 tại vụ dịch ở New York - Hoa Kỳ người ta phân lập được Enterovirus 71 (EV71) cũng là căn nguyên gây bệnh tay chân miệng (5). Tại Trung Quốc, trường hợp nhiễm bệnh HFMD đầu tiên vào năm 1981 tại thành phố Thượng Hải, sau đó lan sang các tỉnh thành phố khác như Bắc Kinh, Quảng Đông. Năm 1995 và 1998 Trung Quốc cũng đó phân lập được EV71 từ những trường hợp nhiễm HFMD. Tại Đài Loan đó xảy ra 2 đợt bùng phát dịch vào tháng 6 và 10/1998 với tổng số 129 106 trường hợp, có 405 trường hợp nặng và 78 trường hợp tử vong. Những trường hợp này chủ yếu xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi và các biến chứng bao gồm viêm não, viêm màng não nước trong, phự phổi, chảy máu phổi, liệt và viêm cơ tim. Năm 2007, tại tỉnh Giang Đông - Trung Quốc xảy ra vụ dịch HFMD, có 39606 trường hợp và 6 trường hợp tử vong, các phòng xét nghiệm tại đây đó phát hiện căn nguyên gây bệnh là EV71 (3). Tại Việt Nam, bệnh được phát hiện từ cuối những năm 1990, thường gặp ở các tỉnh miền Nam và cũng đã xuất hiện ở các tỉnh phía Bắc.

chantaymieng.jpgBệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, bệnh lây truyền qua đường "phân - miệng" và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhân trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà,.... Đặc biệt khi bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp, thì việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho vi rút lây lan trực tiếp từ người sang người. Bệnh dễ gây thành dịch do virus đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) (2, 6). Bệnh do EV71 thường gây các biến chứng thần kinh nặng và có thể dẫn đến tử vong. Biểu hiện chính là tổn thương da -niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trớ kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71. Bệnh lây theo đường tiêu hóa. Nguồn lây chủ yếu từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ bệnh. Bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát dịch.

Chẩn đoán xác định bệnh tay chân miệng dựa vào các triệu chứng lâm sàng (2):

Giai đoạn ủ bệnh: 3 - 6 ngày.

Giai đoạn khởi phát: Sau thời gian ủ bệnh 3 - 6 ngày bệnh thường khởi phát với các triệu chứng như sốt nhẹ, đau họng, biếng ăn, ỉa lỏng vài lần trong ngày, trẻ kém linh hoạt.

Giai đoạn toàn phát: Sau 1- 2 ngày trẻ sẽ nhanh chúng xuất hiện các triệu chứng điển hình của bệnh với biểu hiện phát ban ở các vị trí đặc hiệu và loét miệng. Trường hợp nặng với các biểu hiện biến chứng thần kinh và tim mạch. Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2- 3 mm ở niêm mạc mỏ, lợi, lưỡi. Đồng thời xuất hiện phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm. Khi trẻ sốt cao, nụn nhiều là dấu hiệu nặng, nguy cơ biến chứng. Biến chứng thần kinh, tim mạc, hụ hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

Giai đoạn lui bệnh: Thường sau 7 - 10 ngày trẻ thường hồi phục hoàn toàn, không hoặc ít di chứng.

Ngoài ra chúng ta cũng cần chú ý đến các yếu tố dịch tễ như: tuổi, mùa, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian.

Xét nghiệm khẳng định chẩn đoán dựa vào xét nghiệm Real-time PCR hoặc phân lập virút, xác định nguyên nhân do EV71 hay Coxsackievirus 16 từ bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước hoặc phân. Ngoài ra các xét nghiệm khác cũng có thể thực hiện để chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác như công thức máu, bạch cầu bình thường, chọc dịch não tủy hay chụp cộng hưởng từ sọ não.

benhchantaymieng005.jpgBệnh tay chân miệng cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh có biểu hiện loét miệng như: Viêm loét miệng với vết loét miệng sâu, tái phát, đáy có dịch tiết hoặc các bệnh có phát ban da: Sốt phát ban, dị ứng, viêm da mủ, thuỷ đậu: phỏng nước nhiều lứa tuổi, rải rỏc toàn thân, nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: mảng xuất huyết hoại tử trung tâm hoặc sốt xuất huyết: chấm xuất huyết, bầm máu, xuất huyết niêm mạc.

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên chủ yếu là điều trị hỗ trợ, theo dõi sốt, phát hiện sớm và điều trị biến chứng, đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ và vệ sinh răng miệng.

Bệnh chủ yếu điều trị ngoại trú tại nhà, khám lại ngay khi có dấu hiệu nặng (2): Sốt cao ≥ 39ºC, thở yếu, giật mình, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, yếu hay liệt các chi, co giật hay hôn mê. Immunoglobulin chỉ sử dụng trong những trường hợp cần thiết có sự chỉ định của bác sĩ. Kháng sinh không có chỉ định trong bệnh tay- chân- miệng. Có thể sử dụng kháng sinh khi chúng ta không loại trừ nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não mủ hoặc có bội nhiễm các vi khuẩn. Sử dụng kháng sinh dựa vào phỏng đoán lâm sàng về vi khuẩn gây bội nhiễm hoặc kết quả kháng kháng sinh để lựa chọn cho phù hợp.

Hiện tại chưa có vacxin phòng bệnh đặc hiệu, nên các biện pháp phòng bệnh chủ yếu sử dụng các biện pháp phòng bệnh phổ cập, áp dụng phòng bệnh cho bệnh lây qua đường tiếp xúc.

Tại cộng đồng chúng ta cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh như: Vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (đặc biệt sau khi thay quần áo, tó, sau khi tiếp xúc với phân, nước tiểu, nước bọt). Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà. Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Khi trẻ bị bệnh không đưa trẻ đến nhà trẻ, trường học trong tuần đầu tiên của bệnh. Tại các cơ sở y tế chúng ta cần thực hiện: Cách ly trẻ theo nhóm bệnh. Nhân viên y tế phải mang khẩu trang, rửa tay trước và sau khi chăm sóc trẻ bị bệnh. Vệ sinh bề mặt, giường bệnh và xử lý chất thải theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiếp xúc.

BSCKII. Nguyễn Quang Tuấn, TS Trịnh Thị Ngọc, Ths. Nguyễn Văn Dũng và CS
Khoa Truyền nhiễm - BV Bạch Mai