1. Địa chỉ: Tầng 1, nhà P - Bệnh viện Bạch Mai.

2. Điện thoại: 04.8686988 - 3133                            Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

3. Cơ cấu tổ chức - nhân sự: Khoa có 50 cán bộ trong đó: 21 Bác sỹ (01 Phó giáo sư, 01 Tiến sỹ; 07 Thạc sỹ, 03 bác sỹ CKII (03 bác sỹ là của Trường Đại học Y Hà Nội), 28 ĐD (11 cử nhân điều dưỡng), 01 hộ lý.

4. Ban Lãnh đạo từ 2011 đến nay:  

Nam

ThS. Nguyễn Thành Nam
Phụ trách Khoa - Bí thư Chi bộ
từ 2015 đến nay

                                    

PGS.TS

PGS. TS. Nguyễn Tiến Dung
Trưởng khoa
từ 2008 - 2015

hai

BSCKII. Nguyễn Đông Hải
Phó trưởng khoa

BSCKII Lê Sỹ Hùng

BSCKII. Lê Sỹ Hùng
Phó trưởng khoa

bang

PGS. TS. Nguyễn Văn Bàng
Phó trưởng khoa
từ 2007 - 2012

 

Xuan

BSCKII. Phạm Thanh Xuân
Phó trưởng khoa
từ 2008 - 2013

 

Ngan CTCD

ThS. Bùi Thị Hoàng Ngân
Chủ tịch Công đoàn

   

tuan anh

ThS. Đỗ Tuấn Anh
Bí thư Đoàn thanh niên

   

hoai

ThS. Lê Thu Hoài
Điều dưỡng trưởng

5. Một số hình ảnh: 

nhi_3.jpg

6. Chức năng, nhiệm vụ:

6.1. Khám bệnh và điều trị: Phục vụ công tác khám chữa bệnh cho tất cả trẻ em dưới 15 tuổi từ tất cả các bệnh viện tuyến trước chuyển đến.

6.2. Đào tạo cán bộ

          Phối hợp với các Trường đại học Y Hà Nội, Đại học Dược Hà Nội, Học viện Quân Y, Trường đại học Y tế công cộng, Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, Trường Cao đẳng Y Bạch Mai tham gia giảng dạy cho các đối tượng học viên từ các bậc sau đại học như Tiến sỹ, Thạc sỹ, BSCKII, Sinh viên đại học, Cao đẳng và Trung học.

6.3. Nghiên cứu khoa học

          Nghiên cứu các đề tài phục vụ công tác chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh và nâng cao sức khỏe trẻ em từ cấp cơ sở đến cấp Bộ và Nhà nước trên nhiều lĩnh vực như điều tra cơ bản về sức khỏe, bệnh tật, ứng dụng các kỹ thuật mới và các đề tài ở cộng đồng phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.

6.4. Chỉ đạo tuyến

          Thường xuyên cử các bác sỹ, điều dưỡng của khoa tới các bệnh viện tỉnh, huyện và các trạm y tế xã để hướng dẫn, giảng dạy, chuyển giao kỹ thuật nhằm giúp các cán bộ y tế nâng cao kiến thức và thực hành khám bệnh, điều trị cũng như công tác giáo dục sức khỏe cộng đồng.

6.5. Hợp tác quốc tế

          Hợp tác với WHO, UNICEF, các trường đại học và bệnh viện nước ngoài nhằm trao đổi các bộ học tập, nghiên cứu và áp dụng các kỹ thuật mới của các nước tiên tiến vào Việt Nam.

7. Tóm tắt lịch sử phát triển

          Từ năm 2000 khoa được chuyển sang cơ sở mới do chính phủ Nhật bản viện trợ với 62 giường bệnh điều trị hiện đại với 3 đơn nguyên. Từ năm 2008-3/2015, PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng là trưởng Khoa Nhi; Từ 4/2015 đến nay ThS. Nguyễn Thành Nam phụ trách khoa.

          Đơn nguyên A1

          Gồm 26 giường bệnh trong đó có 6 giường cấp cứu và điều trị tích cực Nhi, 10 giường điều trị tích cực sơ sinh với đầy đủ các trang thiết bị cấp cứu hiện đại như máy thở, oxy và khí nén áp lực, các máy theo dõi monitoring, bơm tiêm điện, máy truyền dịch, siêu âm doppler màu, siêu âm, điện tâm đồ...

          Đơn nguyên A2

          Gồm 36 giường bệnh điều trị các bệnh cấp và mãn tính như Hô hấp, Tiêu hóa Thận tiết niệu, các bệnh máu, tim 
mạch, cơ, xương khớp, thần kinh, nhiễm trùng...

          Phòng khám

          Với 5 buồng khám cho tất cả các trẻ từ sơ sinh đến 15 tuổi, tư vấn bệnh hen, tư vấn trẻ khỏe, dinh dưỡng và điều trị ngoại trú...

8. Những thành tích nổi bật:

          Qua 60 năm thành lập và phát triển, khoa đã đạt được nhiều thành tích, xứng đáng là cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học có chất lượng cao, ngày càng được người bệnh tin yêu.

8.1. Công tác khám và điều trị

          - Khám và điều trị các bệnh chủ yếu về Nội Nhi cho trẻ em dưới 15 tuổi ở các tỉnh thành phố trên toàn quốc đặc biệt là các tỉnh thành phố phía Bắc.

          Để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, cán bộ nhân viên Khoa Nhi luôn luôn được đào tạo và tự đào tạo để ứng dụng các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị. Đồng thời khoa cũng luôn giáo dục thường xuyên việc trau dồi y đức và thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ “Thầy thuốc như mẹ hiền”.

          -  Từ 1995 khoa bắt đầu được đưa vào dự án xây dựng trung tâm kỹ thuật cao của bệnh viện nên thời kỳ này đã có các kỹ thuật mới được triển khai như:

          + Khoa đã ứng dụng thành công phương pháp thông khí nhân tạo mới (BIPAP) bằng máy thở EVITA 2 và sau này là phương pháp thở không xâm lần đầu tiên được áp dụng cho trẻ em ở 
nước ta.

          -  Từ 2000 khoa được đến cơ sở mới khang trang, hiện đại và từ năm 2002 đơn vị điều trị sơ sinh được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban Giám đốc Bệnh viện và sự giúp đỡ đầy nhiệt tình và hiệu quả của Tổ chức JICA Nhật Nản và sự kết hợp chặt chẽ với các khoa, viện đầu ngành như Viện Tim mạch, Trung tâm chống độc, Khoa cấp cứu, Khoa điều trị tích cực, Khoa Sản, Khoa chẩn đoán hình ảnh… Qua đó phát huy được thế mạnh của khoa nhi được nằm trong một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt nhằm phát triển các kỹ thuật cao ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị. Nhờ vậy nhiều bệnh nhân rất nặng tưởng chừng như không qua khỏi đã được cứu sống.

- Đầu năm 2010, khoa đã kết hợp với đơn vị Tim mạch can thiệp để can thiệp tim mạch cho một trẻ nhỏ nhất ở Việt nam là 2 ngày tuổi bị hẹp động mạch phổi bẩm sinh đã được can thiệp tim mạch trong tình trạng cấp cứu nặng thành công.

- Khoa cũng phối hợp rất nhịp nhàng với các khoa khác như Điều trị tích cực, Gây mê hồi sức, khoa Sản v.v… lần đầu tiên đã quyết định sử dụng Tamiflu cho trẻ sơ sinh 1 ngày tuổi và là trường hợp trẻ sơ sinh nhỏ nhất trên thế giới của bà mẹ Cúm A H1N1 được cứu sống cả mẹ và con đem lại niềm vui trọn vẹn cho cả gia đình.

- Tháng 9 năm 2010 Khoa lại cứu sống trẻ sơ sinh non yếu 28 tuần nặng 700g bị nhiễm trùng huyết, ngừng tuần hoàn sau sinh con của bà mẹ bị nhiễm trùng huyết, suy đa tạng và tử vong sau 7 giờ sinh cháu. Các trường hợp bệnh nhi được cứu sống này đã được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin khen ngợi. Đặc biệt đây là trường hợp được VTV1 bình chọn là 1 trong 10 sự kiện y tế nổi bật trong năm 2010.

- Tập thể Khoa Nhi cũng có rất nhiều thành tích trong việc chẩn đoán và điều trị những bệnh nhân nặng, bệnh nhân khó... đem lại sự tin tưởng của nhân dân và đồng nghiệp.

- Qua hơn 60 năm thành lập và phát triển, khoa Nhi đã đạt được nhiều thành tích, xứng đáng là cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học có chất lượng cao, ngày càng được người bệnh tin yêu. Kết hợp chặt chẽ với các khoa, viện đầu ngành như Viện tim mạch, Trung tâm chống độc, Khoa cấp cứu, Khoa điều trị tích cực, Khoa Sản, Khoa chẩn đoán hình ảnh… Qua đó phát huy được thế mạnh của Khoa Nhi được nằm trong một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt nhằm phát triển các kỹ thuật cao ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị. Nhờ vậy nhiều bệnh nhân rất nặng tưởng chừng như không qua khỏi đã được chữa khỏi, cứu sống nhiều trẻ sơ sinh sinh ra từ các bà mẹ bệnh nặng - đây là một trong những thế mạnh của Khoa nhằm hạn chế tỷ lệ tử vong, tàn tật sơ sinh đặc biệt là trẻ sơ sinh của những bà mẹ có bệnh lý nội khoa nặng nề, phối hợp với khoa Chẩn đoán hình ảnh chẩn đoán và điều trị thành công các trường hợp xuất huyết não do dị dạng mạch, u não mà các bệnh viện khác đã từ chối điều trị, cùng với Trung tâm chống độc điều trị các trường hợp ngộ độc nặng nề... Đặc biệt vừa qua, trong thời điểm dịch sởi bùng phát mạnh mẽ, khoa Nhi là một trong những cơ sở y tế được nhiều bệnh nhân lựa chọn theo dõi và điều trị. Cũng trong thời gian này Khoa Nhi đã thành công trong việc cứu chữa nhiều trẻ mắc sởi biến chứng viêm phổi nặng, trẻ <2 tháng tuổi bị sởi biến chứng viêm phổi nặng nề, trẻ viêm não do virus sởi và có rất nhiều trẻ có hoàn cảnh đặc biệt được cứu chữa thành công trong giai đoạn dịch sởi này, đem lại sự tin yêu và hài lòng của các bạn đồng nghiệp cũng như gia đình người bệnh... Phối hợp chặt chẽ với Viện Tim mạch phát hiện và can thiệp điều trị sớm các trường hợp tim bẩm sinh nặng - thậm chí chỉ vài ngày tuổi - có kết quả tốt, liên kết với khoa phẫu thuật tim mạch bệnh viện Việt Đức điều trị thành công nhiều ca tim bẩm sinh nặng, phức tạp. Hiện nay các kỹ thuật mới đã và đang áp dụng thường qui ở khoa để chẩn đoán và điều trị cho các bệnh nhân khó và nặng đó là:

  • Siêu âm Dopler màu chẩn đoán các bệnh tim mạch bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.
  • Siêu âm qua thóp chẩn đoán các tình trạng bất thường và bệnh lý ở não cho trẻ sơ sinh.
  • Siêu âm bụng cấp cứu và thường quy.
  • Điều trị suy hô hấp do bệnh màng trong bằng bơm surfactant qua khí phế quản vào phổi.
  • Điều trị vàng da sơ sinh bằng đèn chiếu vàng da Lead.
  • Thở máy HFO cho trẻ sơ sinh non tháng và rất nhẹ cân.
  • Thở máy dài ngày trong các bệnh thần kinh trẻ em có liệt hô hấp nặng.
  • Thở CPAP không xâm nhập bằng CPAP cột nước cho trẻ sơ sinh.
  • Thở oxy dòng cao (HFNO) trong điều trị suy hô hấp trẻ sơ sinh.
  • Nhờ kết hợp chặt chẽ với trường đại học Saitama và Trung tâm y tế quốc tế của Nhật bản trong nhiều năm Khoa đã xây dựng được mô hình phối hợp Sản Nhi trong quản lý, cấp cứu, chăm sóc và điều trị cho trẻ sơ sinh theo mô hình 
  • tiên tiến nhất của các nước phát triển hiện nay.

 

8.2. Đào tạo cán bộ:

          a. Đào tạo hệ trung học:

Hàng năm có từ 150 - 250 học sinh Điều dưỡng trung học đến thực tập và được đào tạo về lý thuyết cũng như thực hành chăm sóc bệnh nhi. Đặc biệt trong những năm gần đây khoa được chọn là cơ sở thực hành của các lớp điều dưỡng trưởng, mỗi năm có từ 50 - 80 học viên từ các tỉnh phía Bắc về học.

          b. Đào tạo hệ cao đẳng và đại học:

-        Khoa là 1 trong các cơ sở  đào tạo của Trường Đại học Y khoa Hà Nội,  Trường Đại học Dược Hà Nội về Dược lâm sàng, sinh viên hệ Dân y của Học Viện Quân y và Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội.

          c. Đào tạo hệ sau đại học:

- Phối hợp với Trường đại học Y Hà nội, Đại học Dược Hà Nội, Đại học Y tế công cộng đã đào tạo được 08 Tiến sỹ y học, 25 Thạc sỹ, 10  bác sĩ  CKII.

- Hiện tại đang tiếp tục hướng dẫn 02 Tiến sỹ, 03 Thạc sỹ.

          d. Đào tạo bổ túc cho các bác sĩ tuyến tỉnh, huyện:

- Khoa nhận đào tạo cho các bác sĩ về học bổ túc thêm về kiến thức và thực hành cấp cứu nhi khoa và vận hành một số máy móc hiện đại khoa nhi bệnh viện các tỉnh Thanh Hoá, tỉnh Ninh Bình, tỉnh Yên Bái, khoa cấp cứu viện châm cứu trung ương, Bệnh viện đa khoa khu vực phố Nối Hưng Yên, Bệnh viện tỉnh Hưng Yên, Mộc Châu, Vĩnh Phúc…

- Phối hợp với chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính quốc gia mở được 45 lớp huấn luyện cho 1880 lượt bác sĩ của các tỉnh miền bắc và miền trung học về phương phấp chẩn đoán và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính ở trẻ em.

- Hàng năm mở các lớp cấp cứu 
Nhi chung, điều trị và cấp cứu sơ sinh cho các bác sỹ và điều dưỡng ở 31 tỉnh phía Bắc.
- Tiếp tục triển khai đề án 1816 hỗ trợ cho các bệnh viện địa phương trong công tác điều trị và phát triển kỹ thuật mới.   
 
8. 3. Nghiên cứu khoa học

Trong 30 năm qua đã có 82 đề tài nghiên cứu khoa học đước hoàn thành, trong đó có 02 đề tài nhánh cấp nhà nước và 01 đề tài cấp bộ đã được nghiệm thu đó là:

  • Chống tử vong trong viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi. Đặc điểm lâm sàng và điều trị. Mã số 64B06.
  • Đặc điểm lâm sàng và điều trị viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 1 tuổi. Mã số KY 010603B.
  • Chiến dịch vận động sử dụng hợp lí kháng sinh hợp lí, an toàn, hiệu quả và tiết kiệm.

Các đề tài nghiên cứu của khoa đều có chất lượng cao và sau khi hoàn thành đều được áp dụng ngay vào trong thực tế khám chữa bệnh cho trẻ em ở bệnh viện và chăm sóc giáo dục sức khoẻ tại gia đình cho trẻ em ở cộng đồng. Các đề tài tập trung vào những bệnh thường gặp nhất ở trẻ em có tỷ lệ tử vong cao được các tuyến y tế cơ sở áp dụng rộng rãi đã góp phần nhanh chóng giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ em

8.4. Chỉ đạo tuyến:

  • Phối hợp với chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính quốc gia, hàng năm khoa đều cử nhiều cán bộ đi xuống các tỉnh, huyện và xã trong cả nước. Từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Lai Châu, Yên Bái, Hà Giang... đến các tỉnh đồng bằng sông Hồng như Nam Định, Thái Bình... đến các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa thiên Huế và các tỉnh Tây nguyên như Đắc Lắc ở đâu cũng có mặt cán bộ khoa nhi để chỉ đạo việc thực hiện các chương trình y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu và giảng dậy cập nhật các kiến thức chuyên sâu về bệnh lí hô hấp và cấp cứu trẻ em.
  • Phối hợp với chương trình khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, khoa cũng đã cử cán bộ đi nhiều bệnh viện tỉnh trong cả nước kiểm tra và giúp đỡ việc thực hiện bệnh viện bạn hữu của trẻ em tại 15 tỉnh thành phố trong cả nước như các bệnh viện tỉnh Bến Tre, Ninh Thuận, Khánh Hoà, Gia Lai, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh...
  • Phối hợp với Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương ,  Bệnh viện Nhi TW, Viện sốt rét ký sinh trùng,  Bệnh viện lao và bệnh phổi, Bệnh viện Nhi đồng I Thành phố Hồ Chí Minh và dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Ban quản lí điều hành dự án chiến lược chăm sóc và điều trị trẻ bệnh của Bộ Y tế (IMCI), khoa đã cử cán bộ đi các tỉnh như Sơn La, Hải Phòng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh v.v… để tham gia giảng dạy cho cán bộ y tế và các giảng viên của nhiều tỉnh về chiến lược này.
  • Khoa còn thường xuyên giúp cho y tế xã Dũng Tiến, Thường Tín, Hà Tây chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em tại cộng đồng, giúp Trung tâm y tế huyện Phú Xuyên làm tốt công tác phòng thấp trong 10 năm liền.
  • Gần đây thực hiện chủ trương tăng cường cho tuyến y tế cơ sở của Bộ y tế và đề án 1816 Khoa đã cử những cán bộ đi tăng cường cho tuyến y tế của các tỉnh Tuyên Quang, Hưng Yên, Điện Biên, Sơn La, Nghĩa Lộ…
  • Hàng năm khoa liên tục cử từ 5 - 10 đợt xuống tuyến tỉnh để đào tạo ngắn ngày nhằm nâng cao trình độ chẩn đoán, điều trị và chăm sóc cho các bác sỹ và điều dưỡng Nhi của các tỉnh phía Bắc.

8.5. Hợp tác quốc tế

          Một mặt ra sức phát huy nội lực, mặt khác đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm từng bước nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị để hội nhập với trình độ y học tiên tiến của thế giới.

  • Hợp tác với Tổ chức y tế thế giới (WHO) trong việc nghiên cứu xây dựng phác đồ chẩn đoán và điều trị chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em. Soạn thảo tài liệu giảng dạy đáp ứng được các hướng dẫn chủ yếu của tổ chức y tế thế giới và phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội và trình độ của cán bộ y tế từng tuyến để áp dụng chương trình trong cả nước. Trong 15 năm trở lại đây tiếp tục triển khai chiến lược xử trí lồng ghép các bệnh thường gặp ở trẻ em gọi tắt là IMCI. Khoa đã là một trong những thành viên hợp tác tích cực trong việc sửa chữa, bổ sung để hoàn thiện các phác đồ điều trị cho phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam. Tham gia đào tạo các giảng viên tuyến tỉnh và hiện là thành viên trong nhóm kỹ thuật của chiến lược này.
  • Đứng trước tình hình lạm dụng thuốc hiện nay, khoa cùng viện chiến lược và chính sách y tế hợp tác với Tổ chức INRUT và trường đại học Harvert Hoa kỳ nghiên cứu đề tài kê đơn hợp lý tại 18 huyện của 3 tỉnh là Hà Tây, Nam Định và Hải Dương.
  • Hợp tác với viện vaccin quốc tế Hàn Quốc tổ chức xây dựng kế hoạch đề cương và tiến hành nghiên cứu điều tra dịch tễ học bệnh viêm màng não mủ ở Hà Nội.
  • Hợp tác kỹ thuật với trung tâm y tế quốc tế và Đại học Saitama của Nhật Bản trong việc nâng cao năng lực quản lí cấp cứu, chăm sóc và điều trị trẻ sơ sinh theo mô hình phối hợp Sản Nhi tiên tiến.
  • Phối hợp với Đại học Colorado và Bệnh viện Mayo Clinic của Hoa kỳ trong việc mời các Giáo sư Mỹ tới Hội thảo Nhi khoa Việt Mỹ 2 năm/lần.-   Hợp tác với các trường đại học y khoa của Australia, Nhật bản, Cộng hòa Pháp,  Cộng hoà liên bang Đức và Vương quốc Anh trong việc đào tạo sinh viên các nước này sang thực tập tại khoa nhi.  

8.6. Hoạt động khác:

  • Tích cực tham gia vào các hoạt động khác như viết hàng trăm bài tuyên truyền giáo dục sức khoẻ trên các báo sức khoẻ và đời sống, báo khoa học và đời sống…, đài tiếng nói Việt Nam, đài truyền hình trung ương.
  • Cùng viện lao và bệnh phổi hoàn thành 2 bộ phim khoa học giáo dục về hướng dẫn chăm sóc, theo dõi và điều trị bệnh nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em.
  • Viết các tài liệu giảng dạy cho sinh viên y, dược, điều dưỡng nhi khoa, các tài liệu về hướng dẫn sử dụng thuốc, các tài liệu về giáo dục sức khoẻ trẻ em cho Bộ giáo dục và đào tạo.
  • Tham gia biên soạn và thẩm định các chuyên luận của cuốn Dược thư 
  • quốc gia.
  • Tham gia biên soạn được hơn 30 cuốn sách về chẩn đoán và điều trị bệnh nhi khoa.
  • Tham gia công tác khám bệnh từ thiện cho đồng bào và nhân dân vùng núi, các huyện khó khăn có kết quả tốt.
  • Đoàn Thanh niên Khoa phối hợp với các tổ chức tình nguyện thường xuyên tổ chức những hoạt động vui chơi cho bệnh nhi trong bệnh phòng.
  • Tham gia các hoạt động do bệnh viện tổ chức: hội khỏe, văn nghệ, các phong trào thi đua, hiến máu tình nguyện…
  • Hội chẩn liên khoa, liên viện những trường hợp bệnh khó, nặng.

 

9. Các hình thức khen thưởng đã đạt được:

  • Tổ lao động xuất sắc các năm   từ 2005 - 2014.
  • Huân chương lao động hạng ba của chủ tịch nước năm 2011.

10. Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới:

  • Tiếp tục phát triển Khoa về mọi mặt: mở rộng cơ sở; đào tạo, tìm kiếm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển kỹ thuật mới và phát triển chuyên sâu các kỹ thuật đã triển khai.
  • Triển khai các kỹ thuật cao trong điều trị bệnh nhi: ECMO, lọc huyết tương, điều trị hạ thân nhiệt chủ động ở trẻ sơ sinh, nội soi can thiệp và chẩn đoán...
  • Tiếp tục phối hợp và nâng cấp hợp tác giữa các chuyên khoa nhằm nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh và phục vụ bệnh nhân: Hợp tác Sản - Nhi; hợp tác Khoa Nhi - Viện Tim mạch; Hợp tác Khoa Nhi - Trung tâm y học hạt nhân và u bướu...
  • Phối hợp chặt chẽ với Bộ môn Nhi - Trường Đại học Y Hà Nội trong công tác khám chữa bệnh và đào tạo.
  • Tham gia tốt công tác đào tạo chỉ đạo tuyến nhằm nâng cao kiến thức kỹ năng của nhân viên y tế cơ sở, qua đó góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến Trung ương.
  • Tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học, đào tạo lại cho nhân viên trong khoa nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng khám chữa bệnh cũng như trong giao tiếp.
  • Tiến hành các công trình nghiên 
  • cứu khoa học, tham gia các hội nghị, 
  • hội thảo.
  • Phát triển mạnh hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo cán bộ.

 

 


03421525
Hôm nay
Ngày hôm qua
Tuần này
Tháng này
Tháng trước
Toàn bộ
7398
9816
17214
202414
221748
3421525