Bà Trần Thị M, 70 tuổi, trú tại Hà Nội là bệnh nhân ung thư vú di căn xương được điều trị bằng thuốc nội tiết, hiệu quả kết quả khá tốt.

Theo thống kê trong tổng số bệnh nhân bị ung thư vú, có tới hơn 70% bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính (ER+). Liệu pháp nội tiết tác động vào hoạt động của Estrogen đã trở thành nền tảng trong điều trị ung thư vú trong hơn một thế kỷ qua. Đây là cơ hội chữa khỏi cho nhiều bệnh nhân ung thư vú hiện nay.

Cụ bà 70 tuổi sống khoẻ sau ung thư vú di căn xương

Bà Trần Thị M, 70 tuổi, trú tại Hà Nội là bệnh nhân ung thư vú di căn xương được điều trị bằng thuốc nội tiết, hiệu quả kết quả khá tốt.

Bà M cho biết, năm 2005, bà được chẩn đoán ung thư vú bên phải, giai đoạn T4aN1M0 (giai đoạn 3 a), thụ thể nội tiết ER (Estrogen Receptor) và PR (Progesterone Receptor) dương tính, Her 2/neu âm tính.

Bà Giang phải phẫu thuật cắt bỏ ngực phải. Sau phẫu thuật cắt bỏ mô ngực, bà M. bước vào giai đoạn hoá trị, xạ trị và điều trị nội tiết tại một bệnh viện chuyên khoa ở Hà Nội.

Đầu năm 2013, bà M. xuất hiện triệu chứng đau lưng, ăn uống kém, người mệt mỏi. Bà vào Bệnh viện Bạch Mai kiểm tra. Bác sĩ kiểm tra không thấy u ở vú bên trái, sẹo mổ từ năm 2005 bị co kéo nhiều.

Mọi xét nghiệm đều bình thường tuy nhiên bà M. gầy xụt, xanh xao, da nhợt nhạt. Bác sĩ nghi ngờ có thể bà bị ung thư di căn, sau khi chiếu xạ hình xương bác sĩ phát hiện di căn xương đa ổ.

Cụ bà 70 tuổi ở Hà Nội sống khoẻ sau ung thư di căn: Niềm hy vọng cho bệnh nhân ung thư vú - Ảnh 1.

70 % bệnh nhân ung thư vú có cơ hội điều trị nội tiết để chữa bệnh

Bà M. lại bước vào đợt hoá trị mới và sau đó bác sĩ điều trị thêm thuốc nội tiết và đến nay sức khoẻ bà M. đã ổn định hơn. Bà M. ăn uống sinh hoạt tốt, đỡ đau lưng, các chỉ số xét nghiệm công thức máu, sinh hóa, nước tiểu đều bình thường.

Liệu pháp nội tiết tố hiệu quả trong điều trị ung thư vú

Theo GS Mai Trọng Khoa – Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai, nội tiết tố estrogen có vai trò trung tâm trong việc phát triển, duy trì và điều hòa các chức năng sinh dục nữ thông qua tác động vào chu kỳ tế bào, bao gồm quá trình tăng sinh, duy trì và phát triển của tế bào.

Những tác động nói trên được điều hòa qua trung gian thụ thể nhân tế bào của Estrogen (Estrogen Receptor-ER).

Theo thống kê, trong tổng số bệnh nhân bị ung thư vú, có tới hơn 70% bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính (ER+). Liệu pháp nội tiết tác động vào hoạt động của Estrogen đã trở thành nền tảng trong điều trị ung thư vú hơn một thế kỷ qua.

Đối với ung thư vú di căn có thụ thể nội tiết ER dương tính, Hiệp hội Ung thư lâm sàng Mỹ (ASCO) khuyến cáo sử dụng liệu pháp nội tiết thay vì hóa trị. Ngoại trừ ở những bệnh nhân bị bệnh ngay lập tức đe dọa tính mạng hoặc nếu có những lo ngại về sức đề kháng nội tiết.

Khuyến cáo là một phần của ASCO hướng dẫn thực hành lâm sàng về sử dụng hóa trị và liệu pháp nhắm trúng đích cho những phụ nữ có yếu tố tăng trưởng biểu bì (HER2).

Liệu pháp hormon (còn gọi là liệu pháp nội tiết tố, điều trị nội tiết tố, hoặc điều trị nội tiết) là phương pháp điều trị với mục đích làm chậm, hoặc ngừng sự tăng trưởng của các khối u nhạy cảm nội tiết tố, bằng cách ngăn chặn khả năng của cơ thể để sản xuất kích thích tố hoặc can thiệp hoạt động của hormone.

Những khối u không nhạy cảm với hormone không đáp ứng với điều trị nội tiết tố. Liệu pháp hormon cho bệnh ung thư vú không giống như điều trị mãn kinh hormon hay nữ giới dùng liệu pháp hormon, trong đó kích thích tố được đưa ra để làm giảm các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh.

Tại Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch mai, các bác sĩ tập trung vào một số chiến lược để điều trị ung thư vú nhạy cảm với hormone, bao gồm:

Thứ nhất: Chặn chức năng buồng trứng, buồng trứng là nguồn chính sản xuất estrogen đối với phụ nữ tiền mãn kinh, nồng độ estrogen của đối tượng phụ nữ này có thể được giảm bằng cách loại bỏ hoặc ức chế chức năng buồng trứng.

Cụ bà 70 tuổi ở Hà Nội sống khoẻ sau ung thư di căn: Niềm hy vọng cho bệnh nhân ung thư vú - Ảnh 2.

(Ảnh minh họa)

Chặn chức năng buồng trứng được gọi là cắt bỏ buồng trứng. Cắt bỏ buồng trứng có thể được thực hiện bằng phẫu thuật để loại bỏ buồng trứng (gọi là cắt buồng trứng ) hoặc bằng phương pháp xạ trị.

Đây là phương pháp cắt bỏ buồng trứng vĩnh viễn. Ngoài ra, chức năng buồng trứng có thể bị ức chế tạm thời bằng cách sử dụng các loại thuốc can thiệp vào các tín hiệu từ tuyến yên, kích thích buồng trứng để sản xuất estrogen.

Thứ hai: Chặn sản xuất estrogen, thuốc được gọi là chất ức chế aromatase có thể được sử dụng để ngăn chặn các hoạt động của loại enzyme gọi là aromatase, mà cơ thể sử dụng để sản xuất estrogen trong buồng trứng và trong các mô khác.

Các chất ức chế aromatase được sử dụng chủ yếu đối với phụ nữ tiền mãn kinh, vì buồng trứng ở phụ nữ tiền mãn kinh sản xuất ra nhiều aromatase nên sử dụng các chất ức chế để ngăn chặn. 

Thứ ba: Chặn tác động của estrogen, một số loại thuốc cản trở khả năng của estrogen để kích thích sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú.

GS Khoa cho rằng, liệu pháp nội tiết là một phương pháp điều trị hiệu quả, dung nạp tốt và cải thiện thời gian sống thêm tương đương với hóa trị liệu. Do đó, liệu pháp này được khuyến cáo trong điều trị ban đầu của ung thư vú di căn có thụ thể nội tiết dương tính, ngoại trừ ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển nhanh, lúc đó hóa trị là cần thiết.

Hiện tại, có nhiều lựa chọn liệu pháp nội tiết bước đầu tiên và bước sau ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh bị ung thư vú di căn.

Theo Tri thức trẻ


Các kỹ thuật mới triển khai