20088992844_dichta.jpg Các bệnh hô hấp mạn tính gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe bệnh nhân, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Những bệnh lý thường gặp bao gồm: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, giãn phế quản
Dự phòng bệnh phổi mạn tính bao gồm các biện pháp tránh các yếu tố gây bệnh và các yếu tố nguy cơ khởi phát bệnh nhằm làm giảm tỷ lệ người mắc mệnh và tần xuất đợt cấp của các bệnh phổi mạn tính. Khi có dấu hiệu nghi ngờ cần đến các phòng tư vấn của các cơ sở y tế để được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, đúng phương pháp, có hiệu quả.

1. Không hút thuốc lá, tránh khói thuốc

Hút thuốc làm giảm rất rõ sức đề kháng của niêm mạc đường hô hấp. Khi hút huốc các lông chuyển trên bề mặt các tế bào biểu mô phế quản bị giảm hoạt động làm giảm thải chất nhầy khỏi đường hô hấp. Các tế bào bảo vệ khác như các tế bào bạch cầu, đại thực bào cũng hoạt động không hiệu quả do vậy dễ xuất hiện nhiễm trùng hô hấp. Hút thuốc thụ động cũng có tác động tương tự.

Giảm tỷ lệ hút thuốc sẽ làm giảm đáng kể số bệnh nhân mắc bệnh phổi mạn tính trong tương lai, làm chậm lại đáng kể tốc độ xấu đi của chức năng thông khí phổi. Bên cạnh đó, không hút thuốc làm giảm tần xuất các nhiễm trùng hô hấp, căn nguyên hang đầu gây các đợt cấp của bệnh phổi mạn tính như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản…

Cần tiến hành đồng thời các biện pháp nhằm làm giảm tỷ lệ hút thuốc. Các biện pháp bao gồm: các hoạt động cộng đồng, tuyên truyền về tác hại của thuốc lá trên các phương tiện thông tin đại chúng, những bài giảng trong các trường học, các khẩu hiệu, tờ rơi, cấm hút thuốc tại những nơi công cộng, các công sở. Chương trình phòng chống hút thuốc lá cần có sự tham gia từ phía chính phủ. Việc tuyên truyền phòng chống tác hại của thuốc lá cần được tiến hành thường xuyên, với tất cả các lứa tuổi.
2. Tránh ô nhiễm không khí trong nhà
Nhiều bụi, dị nguyên trong môi trường sống trong nhà là nguy cơ gây các đợt cấp bệnh phổi mạn tính như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Việc tạo môi trường sống trong nhà sạch làm giảm nguy cơ nhiễm trùng hô hấp, giảm nồng độ các dị nguyên gây các đợt cấp hen phế quản. 

  • Vật nuôi: vật nuôi là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, đặc biệt với các bệnh nhân hen phế quản. Vật nuôi trong nhà có thể thải dị nguyên tới bất cứ nơi nào trong nhà, do vậy không có biện pháp hoặc hóa chất nào có thể loại trừ hoàn toàn các dị nguyên. Biện pháp tốt nhất là không nuôi bất cứ vật nuôi nào khi trong nhà đã có người được chẩn đoán hen phế quản hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
  • Gián: là tác nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới các bệnh phổi mạn tính đặc biệt là hen phế quản. Cần hạn chế môi trường sống của gián bằng cách bịt kín các lỗ, khe hở trên tường và nền nhà, tránh ẩm và giảm lượng thức ăn thừa rơi vãi trong nhà. Ngăn chặn gián di cư từ nơi khác đến như qua các khe cửa. Dùng các hóa chất diệt gián và các bẫy gián.
  • Tránh ẩm: những nơi ẩm ướt trong nhà như tường nhà hoặc nền nhà là vị trí thuận lợi cho nấm phát triển, bên cạnh đó, môi trường không khí ẩm thấp cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng đường hô hấp. Cần loại trừ những nơi ẩm ướt trên nền nhà, tường nhà, hoặc dùng máy hút ẩm, máy điều hòa nhiệt độ để làm giảm độ ẩm trong không khí xuống dưới 50%.

3. Ô nhiễm không khí ngoài nhà
Một số nghiên cứu chỉ ra ô nhiễm không khí ngoài nhà có thể là căn nguyên gây các đợt cấp của bệnh phổi mạn tính như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Trong thành phần không khí chưa nhiều phần tử khí như ozone, nitrogen oxide..., các phần tử khí này có thể tác động gây các cơn hen phế quản. Thay đổi thời tiết có thể làm thay đổi thành phần bụi, gia tăng các dị nguyên đường hô hấp, thay đổi nhiệt độ và độ ẩm cũng là những yếu tố nguy cơ làm xuất hiện các đợt nhiễm trùng hô hấp.

Cần mặc ấm khi ra lạnh, giữ ấm mặt, cổ ngực bằng cách đeo khẩu trang, đội mũ, quàng khăn ấm khi ra đường, đặc biệt là những người làm việc ngoài trời. Khi không có việc thật cần thiết thì không nên đi ra ngoài trời lúc sáng sớm hoặc đêm khuya vì lúc đó trời lạnh hơn. Tránh luyện tập gắng sức khi trời lạnh, độ ẩm không khí cao, hoặc môi trường nhiều bụi; tránh hút thuốc, khói thuốc và khói bếp, nên ở trong nhà có môi trường ổn định khi đang có đợt cấp của bệnh phổi mạn tính.

4. Tiếp xúc nghề nghiệp
Cần tiến hành các biện pháp làm giảm tới mức thấp nhất ô nhiễm khói, bụi, các sản phẩm hóa chất ở nơi làm việc như bụi gỗ, thực vật, các protein hay gây kích thích như cua, tôm, sò, các dược liệu như kháng sinh, các chất xúc tác như chất tẩy giặt, các chất tiết của thú vật, côn trùng như ruồi, ong, bướm..., các muối kim loại như chrom, nickel, các hóa chất nhựa. Nếu có thể được nên chuyển công tác cho bệnh nhân mắc bệnh phổi mạn tính sang những bộ phận khác có nồng độ khói, bụi thấp.

5. Chế độ dinh dưỡng
Cần nâng cao sức đề kháng bằng việc tập thể dục đều đặn, đảm bảo chế độ dinh dưỡng đủ năng lượng, cân đối để có sức chống lạnh. Thường xuyên vệ sinh răng miệng, giữ đều nếp đánh răng sau khi ăn và trước khi ngủ để tránh nhiễm trùng răng miệng.
Tránh các thức ăn đã từng gây dị ứng, hoặc có thành phần sulfite thường thấy trong các chất bảo quản thực phẩm như khoai tây, tôm, hoa quả khô, bia, rượu đã qua chế biến vì thường gây các cơn hen. 

6. Thuốc
Những bệnh nhân hen phế quản nên tránh dùng các thuốc aspirin, một số thuốc khác viêm không steroids khác khi đã từng xuất hiện cơn hen khi tiếp xúc với những thuốc này. Những bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính có rối loạn thông khí tắc nghẽn không dùng các thuốc chẹn beta giao cảm.

7. Tiêm vacin phòng cúm
Tiêm vaccine phòng cúm hàng năm, tiêm vaccin phế cầu (5 năm một lần), vaccin phòng vi khuẩn haemophilus cho tất cả những người có bệnh phổi mạn tính làm giảm đáng kể tần xuất các đợt nhiễm trùng hô hấp.

8. Các biện pháp phục hồi chức năng hô hấp
Những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần được hướng dẫn biện pháp thở bụng, thở chúm môi.

Việc vỗ rung và dẫn lưu tư thế hàng ngày giúp bệnh nhân ho khạc đờm tốt, giảm ứ đọng đờm trong đường thở, do vậy cải thiện tình trạng viêm niêm mạc đường thở. Liệu pháp này đặc biệt có ý nghĩa với những bệnh nhân giãn phế quản. Trước vỗ rung và dẫn lưu tư thế, bệnh nhân cần được khám lâm sàng tỷ mỉ, kết hợp vời phim chụp X quang phổi hoặc phim chụp cắt lớp vi tính để xác định chính xác tư thế cần thiết cho việc dẫn lưu tư thế, với nguyên tắc vùng được dẫn lưu nằm ở trên cao. Mỗi lần vỗ rung kéo dài khoảng 15 - 30 phút, mỗi ngày nên làm 3 lần.

9. Điều trị triệt để các đợt nhiễm trùng đường hô hấp
    Các ổ nhiễm khuẩn mạn tính ở răng, lợi, miệng, tai, mũi, họng cần được điều trị triệt để nhằm tránh vi khuẩn lan xuống đường hô hấp dưới. Viêm phổi thường có xu hướng nặng hơn ở người già > 65 tuổi, hoặc ở những người mắc các bệnh phổi mạn tính như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản, xơ phổi,... Do vậy những bệnh nhân này cần tuân thủ đúng chế độ điều trị bệnh đang mắc; ở những bệnh nhân nằm lâu cần thay đổi tư thế thường xuyên kết hợp việc vỗ rung lồng ngực. Các nhiễm trùng hô hấp trên

10. Một số vấn đề khác
Béo phì
Giảm cân nặng ở những bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính có béo phì làm cải thiện đáng kể chức năng thông khí phổi của các bệnh nhân, do đó làm giảm triệu chứng, tỷ lệ cơn bùng phát và tình trạng sức khỏe chung của các bệnh nhân.  

Những căng thẳng cảm xúc
Xúc cảm có thể gây cơn hen phế quản, nguyên nhân là do xúc cảm làm tăng thông khí và giảm CO2 gây co thắt phế quản. Một số bệnh nhân xuất hiện cơn hen phế quản khi hoảng sợ. Tuy nhiên cần lưu ý các rối loạn tâm thần không phải căn nguyên chính của hen phế quản.

11. Tổ chức thực hiện
Cần lồng ghép các hoạt động tư vấn, quản lý và điều trị các bệnh hô hấp mạn tính với đầu mối là phòng tư vấn hen phế quản hoặc phòng khám các bệnh hô hấp. Các thày thuốc làm việc ở đây cần có hiểu biết chyên sâu về các bệnh hô hấp mạn tính cũng như các bệnh nội khoa nói chung và có mối liên hệ mật thiết với các khoa phòng khác trong bệnh viện để có thể tư vấn, hướng dẫn điều trị có hiệu quả cho người bệnh.

PGS.TS. Ngô Quý Châu
Phó Giám đốc - Trưởng khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai

Tài liệu tham khảo
1. Ngô Quý Châu (2003). “Hô Hấp – Bệnh học nội khoa”. Bệnh học nội khoa, nhà xuất bản Y học.
2. Bùi Xuân Tám (1999). Bệnh học hô hấp; nhà xuất bản Y học; tr. 334-383.
3. Murray J.F, Nadel J.A. (2007). “Clinical respiratory medicine”. Textbook of respiratory medicine. Elsevier Sauder company. 4th edition, Part 3.

Các kỹ thuật mới triển khai