Ngày 2/12/2006 Boston Globe báo cáo vụ dịch bệnh ho gà ở một bệnh nhân và 15 nhân viên ở Bệnh viện nhi Boston, 60 nhân viên khác có các triệu chứng hô hấp và được xét  nghiệm bệnh ho gà.  Ở trung tâm y khoa Hitchcock Lebanon, New Hampshire, hơn 4500 nhân viên được dùng vaccin dạng độc tố vô bào nhằm đối phó với những trường hợp ho gà ở nhân viên y tế trong mùa xuân năm 2006. Ở Texas năm 2005, hơn 2000 truờng hợp ho gà được báo cáo và có 9 bệnh nhân tử vong, 8 trong số đó là trẻ em. Năm 2003, hơn 1900 trường hợp ho gà được báo cáo ở trẻ vị thành niên và người lớn. Ở New york năm 1998 và 1999 hơn 600 trường hợp ho gà được xác định bằng xét nghiệm.


Vậy điều gì đã xảy ra? Liệu  có phải chúng ta đã mất đi sự kiểm soát lâu dài đối với bệnh ho gà? Để hiểu được những sự kiện vừa nêu, chúng ta phải hiểu về lịch sử dịch tễ của bệnh và các đặc trưng xét nghiệm dùng để chẩn đoán bệnh. Trước khi có vaccin, ho gà là một trong những bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn phổ biến nhất ở trẻ em, hơn một nửa trẻ em bị mắc bệnh trước tuổi đến trường. Mặc dù ho gà gây ho kéo dài ở nhiều trẻ lớn tuổi hơn và người  lớn và có thể chỉ gây khó chịu ở một số người, nhưng sự hiện diện của bệnh trong cộng đồng dẫn tới nhiễm bệnh không thể tránh khỏi ở trẻ nhỏ, là nhóm có nguy cơ tử vong. Quả thật ho gà là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ nhỏ vào thế kỉ 19.
Việc sử dụng rộng rãi vaccin ho gà nguyên bào vào những năm 1940 khiến cho tỷ lệ mắc bệnh ho gà giảm rõ rệt và đạt mức thấp nhất ở Mỹ trong  những năm 1980. Vaccin thường gây ra phản ứng khó chịu toàn thân và tại chỗ tiêm, hầu hết là nhẹ như sốt, khó chịu, ban đỏ, sưng, hoặc nhạy cảm đau tại vị trí tiêm nhưng đôi khi ở một số người lại có biểu hiện nặng hơn như sốt cao co giật, có giai đoạn giảm trương lực giảm đáp ứng. Tuy nhiên vaccin có hiệu quả kiểm soát ho gà.
Trong suốt hai thập kỷ qua, bệnh ho gà tái xuất hiện mức độ chậm và ổn định ở dưới mức khi chưa có vaccin. Vào những năm 1990, sự chuyển đổi từ vaccin nguyên bào sang vaccin dạng độc tố ít gây phản ứng hơn làm giảm có ý nghĩa các phản ứng khó chịu do vaccin nhưng tỷ lệ mới mắc bệnh ho gà ở Mỹ lại tiếp tục tăng.
Cũng như vậy ở các nước đã từng kiểm soát được bệnh ho gà do tiêm vaccin như Canada, Pháp, Australia, có sự thay đổi dịch tễ học liên quan đến tuổi mắc bệnh ho gà với tăng trường hợp mắc bệnh ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành. Ở Canada, ngoài tỉ lệ mới mắc cao đều ở trẻ nhỏ, có bằng chứng cho thấy tuổi mắc bệnh ngày càng tăng, tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất tăng 1 năm, cho thấy sự tồn tại của quần thể mẫn cảm đã dùng vaccin nguyên bào kém hiệu quả. Gần đây ở Canada, Mỹ và một vài nước khác, các chương trình tiêm chủng phổ cập cho trẻ vị thành niên vaccin ho gà vô bào đã được thực hiện nhằm vào sự thay đổi dịch tễ học này.
 Sự thay đổi dịch tễ học có thể do nhiều yếu tố. Sau khi tiêm vaccin, miễn dịch thu được có thời gian hạn chế. Với vaccin ho gà nguyên bào, miễn dịch bảo vệ bắt đầu giảm sau 3 đến 5 năm và không còn hiệu quả bảo vệ sau 10-12 năm. Thời gian bảo vệ sau khi tiêm vaccin dạng độc tố chưa được xác định nhưng miễn dịch bắt đầu giảm sau 4 đến 5 năm, gợi ý liều vaccin nhắc lại sau 10 năm có thể là thích hợp với loại vaccin này. Hơn nữa, các nghiên cứu dịch tễ học gần đây đã chỉ ra rằng miễn dịch sau nhiễm ho gà không phải là suốt đời và có thể không vượt quá thời gian có được miễn dịch do tiêm vaccin. Kiểm soát bệnh ho gà trước đây có thể qui cho sự tiếp tục lưu hành của vi khuẩn dẫn tới nhiễm bệnh hạ lâm sàng hoặc nhẹ (có thể không được nhận ra hoặc không được báo cáo) với hiệu quả củng cố miễn dịch sau đó.
Sự thay đổi dịch tễ học bệnh ho gà còn do những thay đổi trong các phương pháp dùng để chẩn đoán xét nghiệm. Nuôi cấy tác nhân gây bệnh, Bordetella pertussis, là tiêu chuẩn vàng mặc dù độ đặc hiệu 100% nhưng độ nhạy thấp, nhất là ở trẻ lớn, vị thành niên và người lớn; những người đã dùng kháng sinh; và người đã bị ho trên 3 tuần. Khuếch đại ADN của vi khuẩn bằng phản ứng chuỗi polymerase (PCR) làm tăng rõ rệt độ nhạy nhưng độ đặc hiệu mất do ô nhiễm. Phân tích huyết thanh trong đó phương pháp miễn dịch gắn men để phát hiện kháng thể kháng độc tố của vi khuẩn ho gà được dùng để xác định chẩn đoán, nhất là khi bệnh nhân ở giai đoạn muộn của quá trình bệnh. Vì PCR và các xét nghiệm huyết thanh có nhiều khả năng dương tính hơn nuôi cấy ở trẻ lớn hơn và người lớn cũng như tính sẵn có ngày càng tăng của các xét nghiệm này có thể làm tăng các trường hợp được phát hiện trong nhóm tuổi này. Massachussets_bang đầu tiên đưa xét nghiệm huyết thanh được hợp thức hoá vào thường qui đã thông báo tỷ lệ mới mắc ho gà ở vị thành niên và ở người lớn cao gấp khoảng 13 lần các bang khác ở Mỹ; không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm nhỏ tuổi hơn. Sự khác biệt trong tỷ lệ mới mắc này gợi ý bệnh ho gà chưa được chẩn đoán và chưa được báo cáo ở hầu hết nước Mỹ, và tỷ lệ ở bang Massachussets dường như phản ánh chính xác hơn gánh nặng thật của bệnh.

Mối liên quan với tăng sử dụng các xét nghiệm khiến cho các nhà khoa học nghi ngờ liệu sự tái xuất hiện của bệnh ho gà là thời kỳ tăng tỷ lệ bệnh thật hay giả. Sự thật có thể là ở giữa hai khả năng này. Tăng khả năng xác định chẩn đoán dẫn tới tăng các trường hợp được báo cáo do xét nghiệm các trường hợp được báo cáo nhiều hơn các trường hợp được chẩn đoán lâm sàng. Sự xác nhận bằng xét nghiệm tăng lên cũng dẫn tới làm các xét nghiệm bổ sung vì chỉ số nghi ngờ của người thầy thuốc tăng. Tăng tỷ lệ mới mắc ít nhất cũng phần nào phản ánh tăng sự nhận ra và báo cáo. Hơn nữa, PCR và xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán ho gà không được chẩn hoá giữa các labo nên các nhiễm trùng khác cũng bị chẩn đoán nhầm là bệnh ho gà qua xét nghiệm huyết thanh do phương pháp kém hợp thức hoá và qua PCR do ô nhiễm trong phòng xét nghiệm hoặc ở thời điểm lấy mẫu, đây là một nguyên nhân khác của giả vụ dịch. Ví dụ ở New York năm 1998 và 1999 trong đó PCR dương tính do xét nghiệm đơn không tương quan với các hội chứng lâm sàng giống bệnh ho gà có thể là do ô nhiễm phòng xét nghiệm.

Sự tái xuất hiện của bệnh ho gà tăng lên do ảnh hưởng của tăng sử dụng xét nghiệm, tăng nghi ngờ lâm sàng hoặc sai số xét nghiệm theo tình huống. Vụ dịch bệnh ho gà  lâm sàng điển hình ở trẻ vị thành niên và người lớn ghi nhận bằng cả nuôi cấy và PCR đã xảy ra. Nghiên cứu thuần tập đối chiếu trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên chỉ ra sự chuyển dịch dịch tễ học không chỉ là hậu quả của thay đổi xét nghiệm cận lâm sàng.

Cho tới khi chúng ta chẩn hoá được xét nghiệm chẩn đoán ho gà, các nhà lâm sàng sẽ cần phải đánh giá bệnh nhân cẩn thận hơn. Báo cáo tình huống vụ dịch ho gà giả không nên kết luận là dịch bệnh ho gà không xảy ra một cách thường xuyên ở trẻ vị thành niên và người lớn  và cũng không nên ngăn cản việc sử dụng các xét nghiệm nhưng cần đánh giá tất cả các vụ dịch một cách cẩn thận và xác định bằng sử dụng các xét nghiệm khác nhau.

Theo quan điểm gánh nặng bệnh ho gà ở nhóm nhiều tuổi hơn, chúng ta nên chú ý hơn vào khuyến cáo sau của Uỷ ban Giám sát tiêm chủng rằng tất cả trẻ vị thành niên và người lớn nên dùng liều vaccin ho gà dạng độc tố kết hợp với dạng độc tố của bạch hầu và uốn ván. Tính an toàn và hiệu quả của vaccin đã được chứng minh trong thử nghiệm lâm sàng tiến hành trên trẻ vị thành niên và người lớn và và bằng chứng sớm về tính hiệu quả của các chương trình vaccin có thể phòng ngừa bệnh ho gà và tránh được những khó khăn trong việc thiết lập chẩn đoán bệnh. Đồng thời chúng ta phải tiến hành các nghiên cứu dịch tễ học liên quan đến xét nghiệm cẩn thận nếu chúng ta muốn đánh giá chính xác bệnh ho gà ở ngưòi lớn và theo dõi tính hiệu quả của các chiến lược vaccin.


Các kỹ thuật mới triển khai