Gọi tổng đàiĐặt lịch khám
Bệnh viện Bạch MaiNgày đăng: 05/11/2026Tác giả: Bài và ảnh: Kim Long

Dự phòng toàn diện cho bệnh nhân nguy cơ cao: Từ tối ưu hóa kháng đông đến vai trò của vắc xin phế cầu

05/11/2026
10 lượt xem
Bài viết chuyên môn

Trưa 5/11/2026, tại Bệnh viện Bạch Mai, hội thảo vệ tinh “Quản lý toàn diện ở bệnh nhân nguy cơ cao: Từ dự phòng phế cầu đến tối ưu hóa điều trị kháng đông” diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị khoa học quốc tế Bệnh viện Bạch Mai lần thứ 34, thu hút đông đảo bác sĩ chuyên ngành tim mạch, hô hấp, nội khoa và các lĩnh vực liên quan.

Chủ tọa hội thảo là TS.BS Đỗ Văn Thành, Phó Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới và PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hoài, Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai.

Cá thể hóa điều trị chống đông ở bệnh nhân rung nhĩ

Mở đầu hội thảo, TS.BS Viên Hoàng Long, Chánh Văn phòng Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai trình bày báo cáo “Tối ưu hóa liệu pháp chống đông ở bệnh nhân rung nhĩ: Cập nhật ESC 2026”.

Theo báo cáo, điểm CHADS₂ trung bình ở người châu Á khoảng 2,0-2,2, tương ứng nguy cơ đột quỵ hằng năm khoảng 4%. Ước tính đến năm 2050, khoảng 2,9 triệu người châu Á có thể bị đột quỵ do rung nhĩ nếu không được điều trị kháng đông phù hợp.

Nhấn mạnh yêu cầu cá thể hóa điều trị, TS.BS Viên Hoàng Long cho biết, các hướng dẫn ESC 2024 và ACC/AHA/HRS 2023 ưu tiên thuốc chống đông đường uống thế hệ mới (DOAC) hơn thuốc kháng vitamin K ở bệnh nhân rung nhĩ không do van tim, ngoại trừ trường hợp có van tim cơ học hoặc hẹp van hai lá mức độ vừa đến nặng.

Hai sai sót thường gặp trong thực hành là giảm liều thuốc không đúng tiêu chuẩn và không đánh giá đầy đủ chức năng thận. Đáng chú ý, giảm liều DOAC không phù hợp ở bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao không giúp giảm xuất huyết mà còn làm tăng nguy cơ thuyên tắc hệ thống.

Cập nhật các bằng chứng mới, báo cáo viên đề cập nghiên cứu COMBINE-AF 2026 trên 10.212 bệnh nhân châu Á, cho thấy DOAC liều chuẩn giúp giảm đột quỵ/thuyên tắc hệ thống và xuất huyết nặng so với warfarin. Nghiên cứu SINGLE-AF 2026 cũng ghi nhận DOAC giúp giảm 69% biến cố gộp ở bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ trung bình.

Trong khi đó, ARTESiA cho thấy apixaban giúp giảm đột quỵ và thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ cận lâm sàng nhưng làm tăng nguy cơ chảy máu nặng. Hai nghiên cứu ALONE-AF và OCEAN về ngừng chống đông sau triệt đốt thành công cho thấy chỉ nên cân nhắc ở nhóm nguy cơ chủ yếu mức trung bình, không áp dụng trực tiếp cho người có nguy cơ đột quỵ rất cao.

Vắc xin phế cầu - giải pháp dự phòng quan trọng ở người bệnh tim mạch

Ở báo cáo thứ hai, ThS.BSNT Nguyễn Thị Thu Trang, Viện Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai, thành viên Hiệp hội Vắc xin quốc tế, trình bày nội dung “Nhận diện nguy cơ và vai trò dự phòng bệnh do phế cầu ở người có bệnh lý nền”

Theo các số liệu được dẫn tại hội thảo, phế cầu là tác nhân gây tử vong hàng đầu trong nhóm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp dưới, với khoảng 505.000 ca tử vong toàn cầu năm 2021.

Người mắc bệnh nền có nguy cơ mắc bệnh do phế cầu cao gấp 1,8-19,1 lần so với người khỏe mạnh cùng độ tuổi. Riêng bệnh tim mạch mạn tính làm tăng nguy cơ khoảng 7,1 lần. Ở bệnh nhân suy tim, nhiễm phế cầu làm tăng gấp 4 lần nguy cơ tử vong chung và gấp 2 lần nguy cơ nhập viện.

Về hiệu quả dự phòng, nghiên cứu thực tế công bố trên tạp chí Lancet Infectious Diseases tháng 4/2026 cho thấy vắc xin phế cầu cộng hợp 20 týp huyết thanh giúp giảm các trường hợp viêm phổi do mọi nguyên nhân ở người từ 65 tuổi trở lên.

Đáng chú ý, ESC 2026 lần đầu đưa tiêm vắc xin cúm và phế cầu vào bảng khuyến cáo chính thức trong quản lý suy tim (Class IIa, mức bằng chứng C), áp dụng cho tất cả bệnh nhân suy tim, không giới hạn độ tuổi hay phân suất tống máu.

Tại Việt Nam, đồng thuận năm 2025 của Hội Tim mạch Việt Nam khuyến cáo tiêm vắc xin phế cầu cho người từ 50 tuổi trở lên và người từ 19-49 tuổi mắc bệnh tim mạch mạn tính (ngoại trừ tăng huyết áp đơn thuần) hoặc có yếu tố nguy cơ cao.

Theo báo cáo viên, khoảng trống hiện nay không còn nằm ở việc thiếu khuyến cáo mà là tỷ lệ tiêm chủng thực tế trong lâm sàng, đặc biệt ở nhóm người bệnh có bệnh nền.

Phối hợp chuyên khoa, nâng cao hiệu quả dự phòng

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hoài nhấn mạnh hai vấn đề trọng tâm: tối ưu hóa điều trị chống đông ở bệnh nhân rung nhĩ và tích hợp dự phòng bằng vắc xin vào quy trình chăm sóc người bệnh tim mạch.

Bà cũng đề cập xu hướng loại bỏ yếu tố giới tính khỏi thang điểm đánh giá nguy cơ đột quỵ, bởi giới nữ không phải yếu tố nguy cơ độc lập nếu không đi kèm các yếu tố nguy cơ khác. Điều chỉnh này góp phần đơn giản hóa đánh giá và hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp.

Bên cạnh kiểm soát huyết áp, lipid máu và sử dụng thuốc chống đông hoặc kháng tiểu cầu, bác sĩ tim mạch cần chủ động rà soát tiền sử tiêm chủng để tư vấn dự phòng. Việc bệnh nhân mạch vành đang sử dụng thuốc chống đông hoặc kháng tiểu cầu không phải là chống chỉ định tiêm chủng.

Phát biểu tổng kết, TS.BS Đỗ Văn Thành, Phó Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai đánh giá cao chất lượng chuyên môn của hai báo cáo với nhiều bằng chứng mới và khuyến cáo quốc tế năm 2026 có giá trị thực tiễn.

Ông nhấn mạnh sự phối hợp giữa bác sĩ tim mạch và bác sĩ truyền nhiễm trong chăm sóc người bệnh. Việc lồng ghép rà soát tiêm chủng vào quy trình khám, điều trị bệnh tim mạch là hướng đi thiết thực, góp phần giảm biến chứng, hạn chế nhập viện và cải thiện tiên lượng lâu dài.

Thông điệp được thống nhất tại hội thảo là các khuyến cáo chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành thực hành lâm sàng, với quyết định dự phòng và điều trị được cá thể hóa, tái đánh giá định kỳ cho từng người bệnh.


Banner 1Banner 2