Gọi tổng đàiĐặt lịch khám
Bệnh viện Bạch MaiNgày đăng: 05/10/2026Tác giả: Nguyên Hà

Hẹp động mạch cảnh: “Thủ phạm” thầm lặng gây đột quỵ, có thể phòng ngừa nếu phát hiện sớm

05/10/2026
30 lượt xem
Bài viết chuyên môn

Hẹp động mạch cảnh là một trong những nguyên nhân gây đột quỵ thiếu máu não. Điều đáng lưu ý là bệnh có thể được chủ động phát hiện và điều trị trước khi não bị tổn thương nặng nề.

Nhận biết để phòng ngừa

Động mạch cảnh là hai mạch máu lớn và quan trọng nhất chạy dọc hai bên cổ đưa máu từ tim lên nuôi não. Hẹp động mạch cảnh là tình trạng lòng mạch máu bị thu hẹp (thường gặp nhất ở chỗ chia đôi giữa động mạch cảnh chung và động mạch cảnh trong). Nguyên nhân chủ yếu do xơ vữa động mạch.

Động mạch xơ vữa bởi tác động của các yếu tố nguy cơ như tuổi cao, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu và hút thuốc lá, lớp nội mạc thành mạch bị tổn thương, cholesterol (đặc biệt là LDL-cholesterol) lắng đọng cùng với phản ứng viêm tạo thành mảng xơ vữa, làm lòng mạch hẹp dần. Tình trạng này dẫn đến giảm lượng máu lên não hoặc mảng xơ vữa bị nứt vỡ tạo mảnh vụn và huyết khối bong ra theo dòng máu lên não làm tắc động mạch não gây đột quỵ thiếu máu não.

TS.BS Bùi Nguyên Tùng, Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai tham gia báo cáo về can thiệp mạch cảnh

Dựa vào biểu hiện lâm sàng, hẹp động mạch cảnh được chia thành hai nhóm có triệu chứng và không có triệu chứng. Điều đáng lưu ý là bệnh có thể được chủ động phát hiện và điều trị trước khi não bị tổn thương nặng nề.

Hẹp động mạch cảnh có triệu chứng là khi người bệnh đã từng bị nhồi máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) thuộc vùng động mạch bị hẹp, trong vòng 6 tháng gần đây. Trong đó TIA là tình trạng một vùng não hoặc võng mạc bị thiếu máu đột ngột trong thời gian ngắn, gây các triệu chứng giống đột quỵ như yếu hoặc tê một bên cơ thể, méo miệng, nói khó hoặc mù thoáng qua một mắt kéo dài vài phút đến dưới một giờ rồi tự hết hoàn toàn. Dù tự hết, TIA vẫn là lời cảnh báo nguy hiểm vì đột quỵ thực sự có thể xảy ra ngay sau đó. 

Hẹp động mạch cảnh không có triệu chứng là khi động mạch dù đã bị hẹp nhưng chưa từng xuất hiện các biểu hiện trên, thường chỉ được phát hiện tình cờ khi đi khám bệnh. Cách phân loại này rất quan trọng vì quyết định hướng theo dõi và điều trị. 

Có khoảng 15-20% các trường hợp nhồi máu não liên quan đến xơ vữa động mạch cảnh. Theo TS.BS Bùi Nguyên Tùng, Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai, dữ liệu trên 1.191 người bệnh bị TIA hoặc nhồi máu não tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy cứ 100 người thì có khoảng 5 người (5,2%) bị hẹp động mạch cảnh từ 50% trở lên ở cùng bên với vùng não bị tổn thương. Nam giới dễ gặp tình trạng này hơn nữ giới (gấp khoảng 4-5 lần) và cứ thêm mỗi 10 tuổi, nguy cơ bị hẹp tăng khoảng 1,5 lần; thêm vào đó người từng có tiền sử đột quỵ có khả năng bị bệnh cao gấp khoảng 2 lần người bình thường.

TS. BSCKII Nguyễn Tiến Dũng - Phó Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai thăm khám cho người bệnh đột quỵ

Ai nên chú ý kiểm tra?

Người từng bị cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc nhồi máu não cần được kiểm tra sàng lọc bệnh lý động mạch cảnh theo khuyến cáo hiện hành. Ngoài ra, theo TS. Bùi Nguyên Tùng, người lớn tuổi, nam giới, hoặc có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, từng bị đột quỵ nên đi khám sức khỏe định kỳ và cần trao đổi với bác sĩ về việc sàng lọc và tầm soát tổn thương động mạch cảnh bằng siêu âm hay không. 

Một điều cần đặc biệt lưu ý là nguy cơ đột quỵ tái phát cao nhất trong những ngày đầu sau khi xuất hiện dấu hiệu cảnh báo đầu tiên. Do đó, theo TS. BSCKII Nguyễn Tiến Dũng - Phó Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai, ở người bệnh hẹp động mạch cảnh đã có triệu chứng và chỉ điều trị bằng thuốc, nguy cơ đột quỵ tái phát trong vòng 14 ngày đầu có thể vào khoảng 11,5% – nghĩa là cứ khoảng 9 người thì có 1 người bị đột quỵ lại. Vì vậy, với những người bệnh cần can thiệp để khai thông động mạch cảnh, việc thăm khám và điều trị không nên bị kéo dài trong nhiều tuần.

Dấu hiệu cảnh báo - cần đi viện ngay:

Khi đột ngột yếu hoặc tê một bên mặt, tay, chân; méo miệng; nói khó; mờ hoặc mất nhìn một mắt như có “tấm rèm che”, hãy đến ngay cơ sở y tế có khả năng điều trị đột quỵ hoặc gọi 115. Kể cả khi các triệu chứng tự hết sau vài phút, người bệnh vẫn không nên chờ xem có đỡ hay không.

Một vấn đề quan trọng khác là xác định chính xác mạch máu hẹp bao nhiêu. Để xác định chính xác mạch máu hẹp bao nhiêu phần trăm, theo TS. BSCKII Nguyễn Tiến Dũng, không nên chỉ dựa vào một phương pháp duy nhất. 

Siêu âm Doppler động mạch cảnh thường được làm đầu tiên; nếu phát hiện hẹp đáng kể, người bệnh cần được chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) hoặc cộng hưởng từ mạch máu (MRA) để xác nhận, và chỉ chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) - một thủ thuật xâm lấn khi các kết quả không thống nhất. 

Thực hiện can thiệp mạch cảnh cho bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình

Mức độ hẹp cũng cần được đo theo cùng một tiêu chuẩn thống nhất, vì cùng một chỗ hẹp, đo theo hai cách khác nhau có thể cho con số rất khác nhau và ảnh hưởng đến quyết định điều trị. Vì vậy, khi đi khám nên mang theo kết quả các lần khám trước.

Hẹp động mạch cảnh nặng hoàn toàn có thể điều trị được. Người bệnh đã có triệu chứng và hẹp từ 70–99%, việc khai thông mạch máu - bằng phẫu thuật bóc mảng xơ vữa (bóc nội mạc động mạch cảnh) hoặc đặt stent động mạch cảnh - có chỉ định rõ ràng nếu nguy cơ của thủ thuật ở mức chấp nhận được. 

Với mức hẹp 50-69%, bác sĩ sẽ cân nhắc kỹ hơn dựa trên tình trạng của từng người bệnh. Với mức hẹp dưới 50%, điều trị bằng thuốc tối ưu vẫn là nền tảng. Dù có can thiệp hay không, người bệnh vẫn cần dùng thuốc đều đặn theo chỉ định, kiểm soát huyết áp, mỡ máu, đường huyết và bỏ thuốc lá. 

Ngay cả khi chưa có triệu chứng, người hẹp động mạch cảnh vẫn cần được theo dõi sát. Một nghiên cứu lớn trên những người hẹp từ 70% trở lên chưa có triệu chứng cho thấy sau 4 năm, cứ 100 người chỉ dùng thuốc thì khoảng 6 người bị đột quỵ hoặc tử vong, so với gần 3 người ở nhóm được can thiệp tái thông (đặt stent hoặc phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh).

Như vậy, bên cạnh điều trị nội khoa, tái thông mạch máu có thể giúp giảm thêm nguy cơ đột quỵ trong tương lai, với người hẹp dưới 70% chưa có triệu chứng việc dùng thuốc đều đặn kết hợp thăm khám và siêu âm theo dõi định kỳ rất cần thiết để phát hiện sớm khi mức hẹp tiến triển.

Trường hợp hẹp khít động mạch cảnh được phát hiện và đặt stent điều trị tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai 

Không chỉ quan tâm “hẹp bao nhiêu phần trăm”, các bác sĩ còn đánh giá xem mảng xơ vữa có “dễ vỡ” hay không. Chảy máu trong mảng, mảng bị loét hay các dấu hiệu bất ổn khác có thể liên quan đến nguy cơ đột quỵ, nhưng bằng chứng hiện tại chưa đủ để chỉ dựa vào đặc điểm của mảng xơ vữa mà mở rộng chỉ định can thiệp.

“Với người có cơn thiếu máu não thoáng qua, mù thoáng qua một mắt, yếu liệt tay chân, nói khó hoặc những dấu hiệu bất thường khác về thần kinh, việc kiểm tra động mạch cảnh sớm có thể giúp tìm ra nguyên nhân và quan trọng hơn là ngăn một cơn đột quỵ tiếp theo khi vẫn còn cơ hội can thiệp”, TS.BSCKII Nguyễn Tiến Dũng - Phó Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai nhấn mạnh.


Banner 1Banner 2