Gọi tổng đàiĐặt lịch khám
Bệnh viện Bạch MaiNgày đăng: 07/11/2026Tác giả: Nguyên Hà - Thế Anh

Hồi sức sơ sinh trước thách thức nhiễm khuẩn, vi khuẩn đa kháng: Phòng ngừa từ những điều nhỏ nhất

07/11/2026
24 lượt xem
Bài viết chuyên môn

Trong hồi sức sơ sinh, một lần vệ sinh tay không đúng cách, một thao tác chăm sóc đường truyền thiếu vô khuẩn hay việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý đều có thể ảnh hưởng đến an toàn của trẻ. Tại phiên Nhi khoa, Hội nghị Khoa học quốc tế Bệnh viện Bạch Mai lần thứ 34, các chuyên gia trong nước và quốc tế nhấn mạnh vai trò của kiểm soát nhiễm khuẩn từ thực hành chăm sóc hằng ngày, kết hợp sử dụng kháng sinh hợp lý và phối hợp đa chuyên khoa.

Khi mỗi thao tác chăm sóc đều có ý nghĩa sống còn

Trẻ sinh non, nhẹ cân, hệ miễn dịch chưa trưởng thành, phải thở máy, đặt catheter hoặc nuôi dưỡng tĩnh mạch kéo dài là những đối tượng có nguy cơ cao nhiễm khuẩn bệnh viện. Trong môi trường hồi sức tích cực sơ sinh (NICU), kiểm soát nhiễm khuẩn là yếu tố quan trọng bảo đảm an toàn và hiệu quả điều trị.

Chia sẻ kinh nghiệm tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Bạch Mai, ThS.BS. Đỗ Tuấn Anh nhấn mạnh cần chuyển từ phụ thuộc vào ý thức cá nhân sang chuẩn hóa quy trình và tăng cường giám sát hệ thống.

Các giải pháp tập trung vào vệ sinh tay, chăm sóc đường truyền, vệ sinh lồng ấp, quản lý dụng cụ và hạn chế can thiệp xâm lấn không cần thiết. Trong đó, sát khuẩn cổng kết nối trước mỗi lần tiếp cận đường truyền, chăm sóc theo cụm để giảm số lần thao tác và rút catheter khi không còn chỉ định là những biện pháp thiết thực.

Bên cạnh đó, tăng cường nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, tối ưu hỗ trợ hô hấp và cai thở máy xâm nhập sớm khi đủ điều kiện cũng góp phần hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn.

Chuyên gia điều dưỡng Cristina Gallup (DNP, APRN, CNS) nhấn mạnh vai trò của điều dưỡng trong phòng ngừa nhiễm khuẩn tại NICU. Là lực lượng thường xuyên chăm sóc trẻ, điều dưỡng trực tiếp thực hiện kỹ thuật vô khuẩn, phát hiện nguy cơ và ngăn ngừa lây nhiễm chéo.

Đặc biệt, vệ sinh tay đúng 5 thời điểm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và tuân thủ đồng bộ các quy trình phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết liên quan catheter trung tâm (CLABSI) có ý nghĩa quyết định. Các biện pháp bao gồm lựa chọn đường truyền phù hợp, chăm sóc vị trí đặt, sát khuẩn cổng kết nối và đánh giá hằng ngày về sự cần thiết duy trì catheter.

Vi khuẩn đa kháng: Không thể chỉ trông chờ vào kháng sinh mạnh

Nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng vẫn là thách thức lớn trong hồi sức sơ sinh, nhất là ở trẻ sinh non, bệnh nặng hoặc phải điều trị kéo dài.

Theo số liệu được trình bày trong báo cáo năm 2026, Klebsiella pneumoniae chiếm 35,1% số vi khuẩn xác định tại đơn vị sơ sinh, tiếp đến là Stenotrophomonas maltophilia (18,2%). Các nhóm vi khuẩn sinh men ESBL, AmpC, kháng carbapenem và những tác nhân Gram âm khó điều trị cũng đặt ra nhiều thách thức.

Ở trẻ sơ sinh, nhiễm khuẩn nặng thường có biểu hiện không điển hình như thay đổi thân nhiệt, bú kém, rối loạn hô hấp, thay đổi nhịp tim hoặc giảm tưới máu ngoại vi. Vì vậy, chẩn đoán cần kết hợp đánh giá lâm sàng, xét nghiệm và kết quả nuôi cấy vi sinh.

Theo TS.BS. Nguyễn Thành Nam, Giám đốc Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Bạch Mai, sử dụng kháng sinh hiệu quả không đồng nghĩa với lựa chọn thuốc có phổ rộng hơn, mà phải phù hợp với tác nhân gây bệnh, tình trạng người bệnh và đặc điểm kháng thuốc tại từng đơn vị.

Chiến lược điều trị cần bắt đầu bằng lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm có căn cứ, sau đó điều chỉnh theo kết quả vi sinh và tối ưu liều dùng dựa trên nguyên lý dược động học, dược lực học (PK/PD).

Đặc biệt, sau 48-72 giờ khởi trị, bác sĩ cần đánh giá lại đáp ứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm để điều chỉnh phác đồ, thu hẹp phổ hoặc ngừng kháng sinh khi phù hợp. Sự phối hợp giữa bác sĩ hồi sức sơ sinh, chuyên gia vi sinh và dược sĩ lâm sàng có vai trò quan trọng, nhất là trong điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng.

Phòng ngừa tốt để giảm áp lực sử dụng kháng sinh

Kiểm soát nhiễm khuẩn và quản lý sử dụng kháng sinh là hai nhiệm vụ không thể tách rời. Phòng ngừa hiệu quả giúp giảm nhiễm khuẩn bệnh viện, hạn chế nhu cầu sử dụng kháng sinh; ngược lại, sử dụng kháng sinh hợp lý góp phần giảm áp lực chọn lọc vi khuẩn kháng thuốc.

Từ một thao tác vệ sinh tay, chăm sóc đường truyền đúng quy trình đến quyết định lựa chọn kháng sinh phù hợp, mỗi hành động đều góp phần bảo vệ an toàn và nâng cao cơ hội sống khỏe mạnh cho trẻ.

Các chuyên gia nhấn mạnh, kiểm soát nhiễm khuẩn cần trở thành văn hóa an toàn người bệnh. Mỗi nhân viên y tế phải chủ động nhận diện nguy cơ, tuân thủ quy trình chuyên môn; đồng thời, các đơn vị hồi sức sơ sinh cần tăng cường giám sát nhiễm khuẩn, cập nhật dữ liệu vi sinh, tình hình kháng thuốc và phối hợp đa chuyên khoa.


Banner 1Banner 2