Ngày đăng: 06/11/2026Tác giả: Bài và ảnh: Khánh LinhChiều 5/11/2026, trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học Bệnh viện Bạch Mai lần thứ 34, Viện Tim mạch tổ chức phiên hội thảo với chủ đề “Từ tăng huyết áp đến suy tim: Những điểm nhấn trên lâm sàng”, cập nhật các tiến bộ điều trị và khả năng ứng dụng trong thực hành.
Phiên hội thảo do GS.TS.BS Nguyễn Lân Việt, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam chủ tọa, với hai báo cáo về chiến lược điều trị tăng huyết áp và suy tim.
Theo GS.TS.BS Nguyễn Lân Việt, dù các khuyến cáo điều trị ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ người bệnh đạt huyết áp mục tiêu vẫn còn thấp. Để cải thiện hiệu quả kiểm soát bệnh, cần sự phối hợp của bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ và sự chủ động của người bệnh trong theo dõi huyết áp, sử dụng thuốc, điều chỉnh lối sống.
Với suy tim, chuyên gia nhấn mạnh vai trò khởi trị sớm, phối hợp đầy đủ các nhóm thuốc nền tảng. Tuy nhiên, phác đồ cần được cá thể hóa, đặc biệt ở người bệnh suy tim nặng, huyết áp thấp hoặc có nhiều bệnh đồng mắc.
Phối hợp thuốc sớm trong điều trị tăng huyết áp
Trong báo cáo “Phối hợp thuốc điều trị tăng huyết áp sớm hơn - Từ các hướng dẫn điều trị đến hướng tiếp cận lâm sàng”, TS.BS Đồng Văn Thành cho biết kiểm soát huyết áp vẫn là thách thức lớn, dù nhiều bằng chứng đã chứng minh lợi ích của việc kiểm soát huyết áp tích cực trong giảm nguy cơ biến cố tim mạch.
Các hướng dẫn mới, trong đó có khuyến cáo của Hội Tim mạch châu Âu năm 2024, nhấn mạnh đánh giá toàn diện nguy cơ tim mạch và cân nhắc khởi trị thuốc sớm ở những nhóm người bệnh phù hợp.
Xu hướng hiện nay là tăng cường phối hợp thuốc ngay từ đầu, thay vì kéo dài đơn trị liệu và liên tục tăng liều. Các phác đồ phối hợp trong một viên thuốc cũng giúp đơn giản hóa điều trị, cải thiện tuân thủ và hỗ trợ người bệnh sớm đạt huyết áp mục tiêu.
Việc lựa chọn thuốc cần căn cứ vào mức huyết áp, nguy cơ tim mạch, tuổi, bệnh đồng mắc và khả năng dung nạp của từng người bệnh.
Suy tim: Khởi trị sớm, phối hợp đủ liệu pháp
BSCKII. Đặng Minh Hải, Khoa Tim mạch nội khoa và Suy tim - Ghép tim, Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai, trình bày báo cáo “Điều trị suy tim: Những điểm mới và giá trị thực hành”.
Báo cáo cập nhật chiến lược phối hợp sớm bốn nhóm thuốc nền tảng trong điều trị suy tim phân suất tống máu giảm, gồm thuốc ức chế hệ renin - angiotensin (ACEi/ARNI/ARB), thuốc chẹn beta, thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid (MRA) và thuốc ức chế SGLT2. Các nhóm thuốc này có vai trò quan trọng trong giảm nguy cơ tử vong và nhập viện do suy tim.
Thay vì khởi trị tuần tự, chờ tối ưu liều từng nhóm thuốc, xu hướng hiện nay là sớm đưa đầy đủ các liệu pháp nền tảng vào phác đồ, sau đó điều chỉnh liều theo khả năng dung nạp. Cách tiếp cận này giúp người bệnh sớm được hưởng lợi từ các cơ chế điều trị đã được chứng minh hiệu quả.
Báo cáo cũng nhấn mạnh vai trò của ARNI trong giảm tử vong tim mạch, nhập viện do suy tim và cải thiện chức năng tim, chất lượng cuộc sống. Việc cân nhắc khởi trị sớm nhóm thuốc này sau khi người bệnh ổn định về huyết động cũng có giá trị thực tiễn.
Tuy nhiên, điều trị cần được cá thể hóa dựa trên huyết áp, tình trạng ứ dịch, chức năng thận, nồng độ kali máu, nhịp tim và bệnh đồng mắc. Người bệnh có phân suất tống máu cải thiện vẫn cần duy trì điều trị theo chỉ định, không tự ý ngừng thuốc khi triệu chứng thuyên giảm.
Cá thể hóa điều trị, hướng tới giảm biến cố tim mạch
Tại phần thảo luận, các chuyên gia trao đổi về khó khăn trong kiểm soát huyết áp, phối hợp thuốc điều trị suy tim và ứng dụng các khuyến cáo mới vào những trường hợp lâm sàng phức tạp.
GS.TS.BS Nguyễn Lân Việt nhấn mạnh, khuyến cáo khoa học là cơ sở định hướng, song quyết định điều trị phải căn cứ vào tình trạng cụ thể của từng người bệnh. Với các trường hợp suy tim nặng, những can thiệp chuyên sâu như tái đồng bộ tim, thiết bị hỗ trợ hoặc can thiệp tim mạch cần được cân nhắc đúng chỉ định và phối hợp đa chuyên khoa.
Phiên hội thảo góp phần cập nhật các xu hướng điều trị tim mạch hiện nay, nhấn mạnh tầm quan trọng của phát hiện sớm, phối hợp liệu pháp dựa trên bằng chứng và cá thể hóa điều trị, hướng tới giảm biến cố tim mạch, hạn chế nhập viện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.